7 ý nghĩa kỷ niệm Đại lễ Phật đản sinh

0
151

NAM MÔ BẢN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

Kính thưa quí vị,

Chúng ta kỷ niệm đại lễ Phật Đản, tức là chúng ta làm lễ kỷ niệm ngàyra đời của Đấng Thích Ca Mâu Ni, Đức từ phụ của chúng ta. Ngày ra đờicủa Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ở trong cõi Diêm Phù Đề này có những ýnghĩa trọng đại và sâu xa như sau:

Ý nghĩa thứ nhất:

Đức Phật ra đời là để khơi mở tuệ giác cho hết thảy chúng sinh: – Tấtcả chúng sinh đều có Phật tính, tất cả chúng sinh đều có trí tuệ, nhưngtrí tuệ đã bị chôn vùi bởi hàng hàng, lớp lớp vô minh.

Do đó, sự xuất hiện Đức Phật trong cõi đời này là để khơi mở trí tuệcho chúng ta, cho hết thảy chúng sinh, phá trừ tất cả màn hắc ám vôminh đó, để cho hết thảy chúng ta nhận ra được Phật tính ở nơi chúngta, nhận ra được trí tuệ ở nơi mỗi chúng ta.

Tất cả chúng ta đều là dễ thương, hết thảy chúng sinh đều là dễthương. Nhưng mà, chúng ta có thể làm cho chúng ta xấu đi, mọi người cóthể làm cho chính họ xấu đi do tâm ích kỷ, tâm hờn giận.

Tâm ích kỷ, tâm hờn giận làm cho chính chúng ta xấu đi, làm chochúng ta không còn dễ thương nữa. Tâm ích kỷ, tâm hờn giận làm cho hếtthảy chúng sinh không còn là chúng sinh dễ thương nữa.

Do đó, sự ra đời của Đức Phật là khơi dậy tính dễ thương cho chúng ta,khơi dậy tính dễ thương cho tất cả chúng sinh, mà trong thuật ngữ Phậtgiáo, gọi sự ra đời của Đức Phật với chức năng là khai Phật tri kiến.

Ý nghĩa thứ hai:

Đức Phật ra đời là để chỉ bày cho chúng ta một con đường hạnh phúc. ĐứcPhật ra đời là chỉ bày cho chúng ta một con đường an lạc và nhận diệnđược đâu là con đường hạnh phúc, đâu là con đường khổ đau, đâu là giátrị cao quý, đâu là không có giá trị ở trong cuộc sống của chúng ta.

Đức Phật đã chỉ cho chúng ta thấy rằng, một đời sống có thể trởthành cao quý khi lời nói, hành động, việc làm của họ được phát xuất từmột tâm hồn cao quý. Đức Phật đã chỉ bày cho chúng ta cũng như tất cảchúng sinh thấy rõ rằng, lời nói tầm thường, hành động tầm thường, việclàm tầm thường có gốc rễ từ nơi một tâm hồn tầm thường.

Tâm hồn tầm thường là tâm hồn gì? Là tâm hồn ích kỷ, đầy dẫy tham lam,đầy dẫy sân si, đầy dẫy cố chấp, đầy dẫy kiêu ngạo. Lời nói nào phátxuất từ tâm hồn kiêu ngạo, từ tâm hồn ích kỷ, hẹp hòi… lẽ đương nhiênlời nói đó có khả năng tàn hoại hết thảy hạnh phúc, an lạc của chúngta, có khả năng tàn phá hết đời sống cao quý của chúng ta.

Muốn bảo toàn hạnh phúc, muốn bảo toàn an lạc, Đức Phật đã chỉ bàycho chúng ta rất rõ là phải nuôi dưỡng tâm hồn từ, bi, hỷ, xả. Chúng tamuốn hạnh phúc, an lạc mà không biết nuôi dưỡng tâm hồn từ, bi, hỷ, xảthì hạnh phúc, an lạc không thể nào có được.

Chúng ta muốn sống một đời sống cao thượng mà không biết nuôi dưỡngvà phát triển tâm hồn từ, bi, hỷ, xả thì chúng ta không thể nào có đờisống cao thượng được.

Điều đó, Đức Phật đã chỉ bày cho chúng ta cách đây hơn hai mươi lăm thếkỷ. Và hai mươi lăm thế kỷ như vậy, những người nghe lời Đức Phật dạy,họ hành trì, họ thực tập và chính những người đó đã có hạnh phúc, anlạc, không những hạnh phúc, an lạc ở đời sau mà hạnh phúc, an lạc ngaytrong đời này.

Bởi vậy, trong Kinh nói rằng, Đức Phật ra đời là để “Thị Phật TriKiến” cho hết thảy chúng sinh. Thị Phật Tri Kiến là chỉ rõ bản chấtgiác ngộ cho hết thảy chúng sinh. Khi mà chúng sinh nhận ra, thấy rõbản chất giác ngộ đó rồi, thì bắt đầu xây dựng đời sống hạnh phúc, anlạc cho mình và cho hết thảy mọi người.

Ý nghĩa thứ ba:

Đức Phật ra đời khiến cho chúng sinh, dạy cho chúng sinh thành tựu đượcgiác ngộ ngay ở trong đời sống của chính mình. Giác ngộ là giác ngộngay trong đời sống của chính mình, ngoài đời sống của chính mình rakhông có đời sống giác ngộ nào để cho chúng ta đi tìm kiếm. Chúng ta cóthể tìm kiếm là tìm kiếm giác ngộ ngay ở thân và tâm của chúng ta.Chúng ta có thể đi tìm giác ngộ ngay trong đời sống của chúng ta, chúngta không thể vứt bỏ cách đi, cách đứng, cách nằm, cách ngồi, cách tiếpxúc giao tiếp hằng ngày của chúng ta mà có sự giác ngộ.

Do đó, Đức Phật đã chỉ rõ cho chúng ta rằng, đời sống của chúng ta,dù một kẻ tầm thường đến mức nào đi nữa cũng có khả năng giác ngộ. Mộtngười đau khổ tột cùng cũng có thể vươn mình đi đến đời sống hạnh phúc,an lạc. Dù một kẻ rất tầm thường cũng có thể vươn mình đi đến đời sốngthánh thiện, cao thượng.

Điều đó, Đức Phật đã dạy cho chúng ta, cho hết thảy chúng sinh hơn haimươi lăm thế kỷ. Trong lịch sử, cũng như trong đời sống thực tế, chúngta đã thấy bao nhiêu kẻ trong đời sống tầm thường, họ không gặp Phậtpháp, họ không nghe được lời giáo huấn cao quý của những Bậc phạm hạnh,nhưng khi họ gặp được thì họ có cơ duyên trở thành người cao quý.

Bao nhiêu kẻ bất hiếu với cha, bất hiếu với mẹ, nhưng khi gặp thầyhiền, bạn tốt, sống trong một khung cảnh dễ thương, họ trở thành mộtcon người hiếu kính, một con người thuần thiện. Điều đó đã chứng tỏrằng, chúng ta có thể giác ngộ được, nhận ra được cái tính chất caothượng của chúng ta ngay trong đời sống của chúng ta.

Ngày xưa, khi Vua A Dục chưa gặp Phật pháp là một vị Vua hết sức tànác, tàn ác đến nỗi giết cha, giết chín mươi chín người anh để đoạtngôi. Thế mà khi A Dục gặp được một vị Thánh tăng giáo hóa, thì baonhiêu điều xấu ác của ông đã trở thành con người hoàn thiện.

Nói như vậy để cho tất cả chúng ta thấy rằng, cái ác, cái xấu ở giữađời không đâu là không có và không lúc nào là không có. Vậy, chúng takhông sợ rằng chúng ta xấu, chúng ta không sợ rằng chúng ta ác, mà chỉsợ rằng, chúng ta không nhận ra điều ác để tránh, không nhận ra đượcđiều xấu để chúng ta từ bỏ.

Chúng ta chỉ sợ rằng, chúng ta bị vô minh ám chướng, nhận thức sailầm, để rồi bị đầu độc mà không nhận ra được giá trị cao quý trong đờisống của chúng ta, để chúng ta vươn mình đi tới cái cao quý, tốt đẹp.

Ngày xưa, có một vị Tổ dạy rằng:

“Bất úy tham sân khởi
Duy khủng tự giác trì
”

Nghĩa là:

“Không sợ hãi tham sân khởi dậy,
Mà chỉ sợ mình giác ngộ chậm
”.

Nếu mình hiểu được đạo, giác ngộ được đạo, thì bao nhiêu xấu xa, baonhiêu cái tầm thường ở trong đời sống cuả mình cũng được chuyển hóathành cái cao thượng, có ý nghĩa.

Bởi vậy, mà trong Kinh diễn tả rằng, Đức Phật ra đời với ý nghĩa là“Ngộ Phật Tri Kiến” cho hết thảy chúng sinh, nghĩa là làm cho hết thảychúng sinh giác ngộ được những gì mà Đức Phật đã giác ngộ, hiểu rõ bảnthân mình đúng như những gì mà tuệ giác đã nhận ra, chứ không phải hiểubản thân mình bằng vô minh ái nghiệp.

Ý nghĩa thứ tư:

Đức Phật ra đời dạy dỗ, giáo hóa, dìu dắt, hướng dẫn khiến cho chúng tavà hết thảy chúng sinh đều sống cuộc đời như Đức Phật đã sống. Nghĩalà, Đức Phật đã sống như thế nào, Đức Phật biết như thế nào thì Ngàisống như thế đó, Ngài nói như thế nào, thì Ngài làm như thế đó.

Ngài làm như thế nào, thì Ngài nói như thế đó. Ngài biết rằng thamlà nguy hiểm, tham là mất nhân cách, tham là làm cho mình nghèo đi,Ngài biết như vậy cho nên ngài không tham.

Còn ai thấy tham làm cho mình giàu , làm cho mình hạnh phúc thìngười đó cứ tham. Nhưng càng tham lam thì lại càng đau khổ, càng thamthì lại càng mất nhân cách.

Đức Phật nói, càng tham thì lại càng làm cho mình tầm thường, càngtham thì làm cho mình càng nhỏ nhoi; càng tham thì lại càng làm cho chacon xa nhau, càng tham thì lại càng làm cho vợ chồng xa nhau, anh em xanhau, bạn bè xa nhau.

Đức Phật đã nói điều đó hơn hai mươi lăm thế kỷ và những kẻ trí ở trongđời, họ đã đón nhận nó và đã sống. Những người nào sống trong đời sốngvới tâm ly tham thì người đó đầy đủ nhân cách, người đó thật sự hạnhphúc.

Người đó sống trong gia đình họ hạnh phúc, người đó đi giữa họ hànghọ hạnh phúc, họ đi ra giữa xã hội họ hạnh phúc, họ đem được nhiều lợiích cho bản thân, cho gia đình, cho xã hội và người đó không những hạnhphúc trong đời này , mà đời sau họ cũng hạnh phúc.

Bởi vậy, Như Lai nói những gì Như Lai biết, Như lai đã làm, Như lai đã chứng nghiệm, Như Lai đã thấy rõ, Như Lai đã sống.

Như vậy, Đức Phật ra đời với ý nghĩa thứ tư là những gì Ngài nói thìNgài đã làm và những gì Ngài đã làm Ngài mới nói. Còn tất cả chúng tachưa làm mà đã nói, chưa làm được việc nào tốt đẹp cả mà khoa trương,lắm lời về sự tốt đẹp. Tất cả chúng ta chỉ nói lên những lời tốt đẹp,mà không làm những điều tốt đẹp. Do đó, cái xấu, cái khổ, cái thất vọngvẫn luôn luôn theo đuổi chúng ta như bóng với hình.

Với ý nghĩa thứ tư này, trong Kinh diễn tả mục đích của Phật ra đờilà “Nhập Phật Tri Kiến” cho hết thảy chúng sinh. Nghĩa là, Đức Phậtbước đi là bước đi bằng tuệ giác. Ngài đứng là cách đứng của tuệ giác.Ngài nằm là cách nằm của tuệ giác. Ngài ngồi là cách ngồi của tuệ giác.Ngài nhìn là cách nhìn của tuệ giác. Ngài nghe là cách nghe của tuệgiác. Ngài ngửi là cách ngửi của tuệ giác. Ngài thở là cách thở của tuệgiác. Bởi vì, tất cả những cái đi, đứng, nằm, ngồi, nói, cười, tiếp xúcbằng năng lượng tuệ giác đó, nên trong đời sống của Đức Phật không cònmảy may sai lầm.

Còn chúng ta đi, đứng, nằm, ngồi bằng vọng niệm. Chúng ta nói, nhìn,nghe, ngửi, ăn bằng điên đảo tưởng. Chính cái điên đảo tưởng đó thúcđẩy chúng ta đi vào con đường khổ đau, con đường bất ổn. Bởi vậy, suốthơn hai mươi lăm thế kỷ, bao nhiêu bậc Thánh trí ở trong đời sau khinghe những lời Phật dạy, đem những lời Phật dạy đó vào trong đời sốngcủa mình để thực tập, để sống và bao nhiêu bậc Thánh trí ở trong đời đãcó hạnh phúc, đã có an lạc.

Vua Trần Nhân Tông là một vị Vua anh minh của Việt Nam, đã cảm nhậnđược Phật pháp rất sâu xa. Cho nên, Vua đã phát biểu trước triều đìnhcủa nhân dân Việt Nam lúc bấy giờ như thế này: “Cảm Đức từ bi muôn kiếp nguyện cho thân cận

Sau khi Vua Trần Nhân Tông học Phật, tu Phật, thấy được cái cao quýcủa Phật, muốn mình trở thành như một vị Phật. Do đó, Vua đã chọn chomình một Pháp hiệu là: Điều Ngự Giác Hoàng. Giác Hoàng tức là nhà Vuagiác ngộ. Điều Ngự là một trong những phẩm tính của Phật. Phẩm tính đócó khả năng thuần hóa hết thảy chúng sinh.

Vua Trần Nhân Tông chọn cho mình phẩm hiệu là Điều Ngự Giác hoàng.Nghĩa là, nhà Vua giác ngộ thuần hóa nhân dân Việt nam trong tinh thầnPhật giáo, trong tinh thần của đạo lý giác ngộ.

Tại sao Vua Trần Nhân Tông phải chọn Phật giáo làm một nền tảng giáodục dân chúng sống đúng tinh thần Phật giáo. Vì, chỉ có tinh thần Phậtgiáo là tinh thần bao dung, tinh thần hỷ xả. Chỉ có xây dựng theo tinhthần Phật giáo mới làm cho gia đình bình ổn, làm cho tâm hồn của mỗicon người bình ổn. Từ tâm hồn của mỗi con người được bình ổn sẽ đưa đếngia đình bình ổn, và mỗi gia đình bình ổn sẽ đưa đến họ hàng bình ổn.Mỗi gia đình bình ổn sẽ đưa đến xóm làng bình ổn. Xóm làng bình ổn sẽđưa đến từng phường, xã bình ổn. Từng phường xã bình ổn sẽ đưa đến quậnhuyện bình ổn. Nhiều quận, huyện bình ổn sẽ đưa đến phố thị bình ổn,tỉnh thị bình ổn. Nhiều tỉnh thị bình ổn sẽ đưa đến quốc gia bình ổn.Nhiều quốc gia bình ổn sẽ đưa đến thế giới bình ổn. Mỗi thế giới bìnhổn sẽ đưa đến toàn thể vũ trụ sống trong một quy luật trật tự, hạnhphúc.

Như vậy, một trật tự lớn lao có thể bình ổn được khi tâm của mỗi chúngsinh bình ổn, nghĩa là phải khơi mở cho được Phật tính nơi họ. Mỗingười phải biết trở về sống với cái dễ thương nơi mình, cái dễ thươngnơi mình chính là Phật tính, cái quý giá nhất nơi mình chính là Phậttính. Chúng ta trở về lại với cái cao đẹp nhất nơi chúng ta là Phậttính.

Phật tính nằm ở đâu? Phật tính nằm trong tâm hồn của chúng ta. Chúng tathấy rằng, Đức Phật ra đời để khơi mở, chỉ cho chúng ta rằng trong tâmchúng ta có Phật tính. Ngài chỉ trong tâm quý vị có Phật tính, quý vịđã thấy chưa?

Ai thấy rồi thì ngộ, ai chưa thấy thì mê. Quý vị thấy trong tâm quývị có Phật tính thì quý vị ngộ, quý vị sẽ đi trên con đường sáng. Quývị không thấy trong tâm quý vị có Phật tính thì quý vị mê. Mê thì quývị đi vào con đường tối tăm, mù mịt và dù có hai mắt mà vẫn tối thui,có hai chân mà vẫn què, có hai tay mà vẫn không nắm được gì, có mũi màkhông ngửi được, có tai mà vẫn không nghe được.

Nhưng, nếu ta thấy trong tâm ta có Phật tính, ngộ được Phật tính đóthì ta có cơ hội đi lên, có cơ hội đi tới với hạnh phúc, an lạc, vớigiải thoát, với chân trời mở rộng.

Ý nghĩa thứ năm:

Ngộ rồi chưa đủ, phải thể nhập với Phật tính đó và biểu hiện Phật tínhđó trong đời sống hằng ngày của chúng ta. Như vậy ngộ rồi thì phảinhập, mà nhập rồi thì phải xuất, nhập mà không xuất thì nghĩa nhập đókhông thành. Bởi vì, nhập mà không xuất thì bí, cho nên nhập là phảixuất.

Trong vô lượng kiếp về trước, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã từng hành BồTát đạo. Từ nơi Đức Phật Oai Âm Vương cách đây hàng tỉ tỉ kiếp, ĐứcPhật Thích Ca Mâu Ni đã từng học với Đức Phật Oai Âm Vương. Đức PhậtOai Âm Vương đã từng khai, thị, ngộ, nhập, tri, kiến cho Phật Thích CaMâu Ni. Và sau khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nhập được Phật tri kiếnrồi, Ngài bắt đầu xuất ở nơi thế giới Ta Bà này.

Xuất ở nơi thế giới Ta Bà này, Ngài vui với cái vui của chúng ta,buồn với cái buồn của chúng ta, Ngài nằm gai nếm mật với chúng ta. KhiĐức Phật Thích Ca Mâu Ni xuất hiện trong mười phương thế giới, xuấthiện trong cõi Ta Bà này là Ngài bắt đầu đi con đường của Thánh đạo,con đường Bồ Tát để đưa mình và hết thảy chúng sinh đi về với con đườnggiác ngộ.

Tiền thân của Phật Thích Ca Mâu Ni là ai? Tiền thân của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni mà trong Kinh Pháp Hoa đã ghi lại chính là Bồ Tát Thường Bất Khinh.

Bồ tát Thường Bất Khinh là một vị Bồ Tát không dám khinh ai cả và là một vị Bồ tát chuyên thực hành hạnh không dám khinh ai cả.

Vì sao bồ Tát Thường Bất Khinh là tiền thân của Phật Thích Ca Mâu Nivà Ngài không dám khinh ai cả? Bởi vì, Ngài thấy rõ chúng sinh dù tầmthường đến mức nào đi nữa, họ cũng có cái cao quý của họ.

Sở dĩ họ tầm thường là vì họ không gặp được thầy, không gặp đượcbạn, không gặp được người cha, người mẹ, người anh, người chị dễ thương.

Do đó, cái tầm thường mới lem ố ra trong đời sống của họ. Giá nhưnhững chúng sinh tầm thường đó mà gặp được thầy hiền, bạn tốt, gặpngười cha dễ thương, người mẹ dễ thương, người anh, người chị dễthương, thì nhất định sớm muộn gì họ cũng dễ thương thôi.

Chúng sinh, tầm thường như vậy là vì họ sinh ra trong xã hội gặp vịvua, quan không dễ thương, cho nên, lâu ngày cái không dễ thương củaông vua, ông quan làm lấm lem họ.

Nếu họ có phúc gặp được vị vua dễ thương, vị quan dễ thương, vị minhquân dễ thương, vị minh chúa… thì người dân đó lâu ngày cũng trởthành hiền thiện, quý báu.

Bồ tát Thường Bất Khinh thấy rõ như thế và yêu đời như thế. Cho nên, Bồtát Thường Bất Khinh thấy một người tầm thường, Ngài cũng không thấtvọng. Ngài thấy một người tầm thường Ngài cũng đứng ở xa kính lễ vàNgài nói rằng: “Tôikhông dám khinh các Người, tôi không dám khinh các Ngài, các Ngài sẽ đitrên con đường Thánh đạo, các Ngài sẽ đi trên con đường Bồ Tát đạo, cácNgài tương lai sẽ làm Phật”.

Tôi không dám khinh các Ngài, lời nói cao đẹp đó dù bị đôi đá, dù bịnguyền rủa… Bồ Tát Thường Bất Khinh vẫn không hề nổi cơn giận dữ, vẫnkhông hề trễ nải nói lên những lời tốt đẹp đó. Quý vị có biết, Bồ TátThường Bất Khinh ở trong Kinh Pháp Hoa là ai không? Là tiền thân củaĐức Phật Thích Ca Mâu Ni.

Ngài thể nhập được Phật tính rồi thì bây giờ Ngài phải xuất Phậttính ra, phải thể hiện Phật tính ra cho mọi người. Mà thể hiện Phậttính đó là tính không giận dữ. Đứng trước một nghịch cảnh, mình đem lờichúc tụng cho người, thế mà người không nhận lại còn thóa mạ, còn vácđá ném mình nữa, nhưng Ngài vẫn không giận dữ.

Ngài vẫn thương người vác đá ném mình một cách chân tình: “Tôikhông dám khinh Người đâu, Người chưa biết thì vác đá ném tôi như vậyđó, nhưng mai mốt Người biết rồi, thì Người hết ném tôi thôi. Tôi khôngdám khinh quý vị đâu, tôi không dám giận quý vị đâu. Mặc dầu hôm nay,tôi biết quý vị nói xấu tôi đó, tìm cách hại tôi đó, tìm cách nhục mạtôi đó, nhưng tôi không dám khinh quý vị đâu, tôi không giận quý vịđâu, tôi rất thương quý vị.

Bởi vì, quý vị chưa hiểu tôi thì quý vị nguyền rủa tôi là phải;quý vị chưa nhận ra tôi thì quý vị nguyền rủa tôi là phải, nhưng, maimốt quý vị nhận ra được sự thật rồi, khi đó không ai bảo quý vị phảithương tôi, mà quý vị vẫn thương như thường”.

Công trình tu học đó là công trình mà Đức phật Thích Ca Mâu Ni đã thựchành trải dài hàng thế kỷ. Bây giờ đây chúng ta làm lễ kỷ niệm Đức PhậtThích Ca Mâu Ni ra đời, có phải chúng ta làm lễ kỷ niệm suông không? Cóphải chúng ta đến nơi lễ đài để lạy Phật, nhưng xong rồi chứng nào vẫngiữ tật nấy hay không?

Nếu chúng ta đến nơi một lễ đài, để rồi chen nhau lạy, sau đó về nhàvà chứng nào vẫn giữ tật nấy, xem người như rơm rác, thì thiết lập lễđài để làm gì?

Chúng ta phải thiết lập lễ đài ngay chính trong tâm hồn chúng ta.Chúng ta phải xây dựng cho được lễ đài ngay trong đời sống của chúngta, cái lễ đài đó mới thật sự quan trọng. Chúng ta đừng khờ khạo góptiền hàng triệu bạc, hàng chục triệu bạc để rồi làm công việc dã tràngxe cát biển đông.

Chúng ta đừng bỏ ra cả một đời người để làm một công việc như vậy.Chúng ta phải biến lễ đài thành lễ đài ngay chính trong tâm hồn chúngta và lễ đài khi đã được thiết trí trong tâm hồn của chúng ta, thì lẽđương nhiên chúng ta đi đâu, ở đâu, lúc nào, ngủ, thức đều có Phật cả.

Thưa quý vị! Tại sao Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, khi thực hành Bồ Tátđạo, Ngài làm được những việc đó? Bởi vì, Ngài ngộ được tri kiến Phật,Ngài nhập được tri kiến Phật. Và khi ngộ, nhập Phật tri kiến rồi, Ngàithương hết thảy chúng sinh. Cho nên, Ngài mới xuất hiện trong cõi DiêmPhù Đề này với chúng ta. Nhưng tại sao Ngài không xuất hiện trên loàihoa Sứ mà lại chọn hoa Sen để xuất hiện?

Ngài xuất hiện trên hoa Sen có ý nghĩa gì? Nghĩa là khi một Đấng giácngộ đã khơi mở được Phật tính nơi chính mình, đã thấy rõ được Phật tínhnơi chính mình, đã giác ngộ được Phật tính nơi chính mình và đã thểnhập trọn vẹn được Phật tính nơi chính mình qua đời sống hằng ngày, thìvị đó sống giữa trần thế mà không bị ô nhiễm.

Vị đó đi vào danh mà không bị danh làm cho ô nhiễm, đi vào trong lợimà không bị lợi làm cho ô nhiễm. Vị đó đi vào trong danh mà không bịdanh trói buộc, đi vào trong lợi mà không bị lợi trói buộc, đi vàotrong cái mùi vị mà không bị cái ăn trói buộc, mặc áo mà không bị vảivóc, gấm lụa trói buộc, uống nước mà không bị rượu, bia, bò húc, tróibuộc.

Tất cả những cái ô nhiễm, không bị trói buộc đó là biểu tượng chohoa Sen. Hoa Sen ở trong bùn mà không bị ô nhiễm. Bởi vậy, Đức Phậtxuất hiện trên cõi đời, Ngài đi trên bảy hoa Sen là vậy đó. Hoa Sen làvô nhiễm, là không còn mắc kẹt bởi nước, bởi bùn, mặc dù hoa Sen từbùn, từ nước mà lớn lên và trưởng thành.

Khi một Đấng tuệ giác mà thành tựu Phật tri kiến rồi, Phật tri kiến đótừ chúng sinh mà ra, nhưng khi đã thành tựu Phật tri kiến thì không cònmắc kẹt cái tầm thường của chúng sinh nữa. Bởi vậy, Đức Thích Ca Mâu Nitừ cung trời Đâu Suất đã hóa thân thị hiện trong cõi Diêm Phù Đề này vànằm trong bụng Ma Ya phu nhân.

Ngài không phải nằm trong bụng mẹ như những thai nhi khác, Ngài nằmnơi đó vì đại nguyện, đại trí, đại bi. Còn chúng ta vì vô minh áinghiệp, vì u mê ám chướng mà vào nằm trong bụng mẹ. Bởi vậy trong KinhHoa Nghiêm dạy rằng: “Khi Bồ Tát Tất Đạt Đa nằm trong thai tạng hoànghậu Ma Ya, Ngài đã thuyết pháp cho hàng Bồ Tát khắp cả mười phương thếgiới”.

Chúng ta đừng cho rằng đây là một ảo tưởng, mà đây là một tuệ giác, đâylà một điều khoa học có thể chứng minh được. Đức Phật khi nằm trongthai tạng hoàng hậu Ma Ya, Ngài thuyết pháp bằng năng lượng của tuệgiác, thuyết pháp bằng ánh sáng của tuệ giác.

Từ trong thai tạng mà tỏa ra vô số ánh sáng, giao tiếp với vô số BồTát khắp cả mười phương. Và Bồ tát khắp cả mười phương vẫn ngồi ở thếgiới của mình mà tiếp nhận ánh sáng tuệ giác đó mà nói chuyện với BồTát Tất Đạt Đa, tức là hóa thân của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

Điều này, trong vòng khoảng ba trăm năm nữa khoa học sẽ phát hiệnđược. Một thai phụ ở bên Mỹ, bằng tia laser ta có thể ngồi ở Việt Nammà nhìn được thai nhi. Bây giờ khoa học mới tìm tòi, phát hiện đượctính nam hay nữ của thai nhi từ 5 đến 6 tháng bằng siêu âm.

Cho nên, những gì Phật nói, những gì Đức Phật dạy là những gì mớitinh của khoa học và khoa học là một học trò ấu trĩ của Phật giáo. Tôinói khoa học là học trò ấu trĩ, ngây ngô của Phật giáo, cho nên, quý vịPhật tử đừng có ảo tưởng là duy khoa học! Có đôi người mù quáng, tầmthường, thấy khoa học thành công một vài lãnh vực thì đã hô hào duykhoa hoc, nhưng cái duy khoa học chỉ là cái ấu trĩ của Phật giáo màthôi!

Bởi vậy, Đức Phật xuất hiện trong cõi đời này, Ngài đi trên bảy hoa Senđể chứng tỏ rằng, Ngài xuất hiện trên cõi đời này với tâm vô nhiễm, vớitrí vô nhiễm, với tuệ vô nhiễm. Ngài thương yêu mà vô nhiễm, còn chúngta thương là nhiễm, chúng ta không thương thì thôi, còn thương lànhiễm, thương là kẹt.

Bồ Tát thương không kẹt, Phật thương không kẹt, cũng như hoa Sensinh ra từ bùn mà không kẹt bùn, nó sinh ra từ nước mà nó không kẹtnước, nó sinh ra từ sự tanh hôi mà nó không kẹt bởi sự tanh hôi đó. Vìý nghĩa này, mà Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Ngài xuất hiện trên hoa sen,Ngài ngồi trên hoa Sen, Ngài đứng trên hoa Sen.

Ý nghĩa thứ sáu:

Tại sao Đức Phật xuất hiện trên cõi đời này, Ngài đi bảy bước trên hoaSen? Một đặc điểm khác nữa của hoa Sen là Hoa nở Sen hiện. Nghĩa là,Đức Phật, dạy giáo pháp của Ngài, nếu chúng ta quyết tâm hành trì, thìsẽ có an lạc ngay, đó là “Hoa nở Sen hiện”!

Không tu thì thôi, tu là tức khắc có an lạc ngay! Cho nên, những ai tu tập mà không có an lạc thì phải coi chừng! Phải tu lại!

Tôi tu một giờ là tôi có hạnh phúc một giờ, không có lý do gì mà tu một giờ mà không có hạnh phúc, an lạc một giờ.

Nếu tu một giờ mà khổ đau thì đừng tu, cho nên, tôi tu một giờ là tôi có hạnh phúc, an lạc một giờ, đó là hoa nở Sen hiện.

Tu một giờ là có hạnh phúc, an lạc một giờ. Tu hai giờ là có hạnhphúc, an lạc hai giờ. Tu mười năm là có hạnh phúc, an lạc mười năm. Tumột trăm năm là có hạnh phúc, an lạc một trăm năm. Không có lý do gì tumà khổ cả!

Nhiều người Phật tử thường đi chùa, nhưng có những lời nói thiếu ýthức. Có người con muốn xuất gia nhưng cha mẹ không đồng ý, vì chorằng, đi tu phải thức khuya, dậy sớm.

Vậy thì ai thức khuya dậy sớm để bây giờ dạy đạo, giảng đạo chomình? Quý vị nhìn lại về cách hiểu đạo, cách tu tập của mình! Chỉ cóngười không biết tu tập mới khổ mà thôi. Tôi nhắc lại với quý vị rằng,chỉ có người không tu tập mới khổ, còn chúng ta tu tập một ngày là hạnhphúc một ngày, tu hai ngày là hạnh phúc hai ngày, tu cả đời là hạnhphúc cả đời, tu hằng kiếp là hạnh phúc hằng kiếp.

Tu là có hạnh phúc, đó là hoa nở Sen hiện.

Vì vậy, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, Ngài vui với cái vui rất trọn vẹn. Dovậy mà các nghệ sĩ đã điêu khắc tượng của Ngài chỉ cười mỉm thôi, cườinửa miệng thôi! Chỉ có cười mỉm là cái cười trọn vẹn. Tôi nhắc lại chỉcó cười mỉm mới là cái cười trọn vẹn. Cười mỉm là cái cười của trungđạo, còn cái cười toe toét như cái cười đi dự tiệc cưới là cái cườimang tính chất thất vọng, khổ đau sau đó! Và cũng không phải cái mặtméo mó như đi thăm đám ma!

Đám cưới và đám ma là hai thái cực của cuộc sống. Chỉ có cười mỉmmới là cái cười độc đáo của cuộc sống. Chỉ khi nào có tuệ giác mới cườimỉm được. Thấy tiệc cưới cũng cười mỉm, thấy đám ma cũng cười mỉm,người ta khen mình cũng cười mỉm, người ta chê mình cũng cười mỉm. Nhưvậy cái cười mỉm là cái cười độc đáo nhất mà chỉ có Đức Phật mới cườinổi vậy! Vì sao chỉ có Đức Phật mới cười mỉm nổi?

Vì, chỉ có Đức Phật mới thể nhập được tuệ giác trong đời sống của chính Ngài.

Ý nghĩa thứ bảy:

Một đặc điểm nữa là, Đức Phật xuất hiện trên cõi đời này, trên hoa Senlà bởi vì, hoa Sen còn có một đặc điểm nữa là “hoa rụng Sen thành, Hoanở thì Sen hiện”.

Sự xuất hiện của Đức Phật trên hoa Sen để nói cho chúng ta thấyrằng, cái chết là bắt đầu của cái sống, cái sống đây là bắt đầu của cáichết. Sự xuất hiện cũng có nghĩa là bắt đầu của một sự ẩn khuất. Ngàiẩn khuất ở nơi thế giới Liên Hoa Đài Tạng thì Ngài có mặt ngay nơi thếgiới Ta Bà này.

Rụng là rụng từ thế giới Liên Hoa Đài Tạng, mà thành là thành nơithế giới Ta Bà. Cho nên, đối với cái sống, cái chết ở trong đạo Phậtkhông còn là cái gì nữa để chúng ta sợ hãi, lo âu.

Chúng ta vắng mặt ở nơi này thì ta có mặt ở nơi kia, chúng ta vắngmặt ở nơi gia đình chúng ta thì chúng ta có mặt ở nơi chùa Phước Duyên,chúng ta vắng mặt ở chùa Phước Duyên thì chúng ta có mặt ở nơi gia đìnhchúng ta.

“Hoa rụng Sen thành”, Bồ Tát Tất Đạt Đa vắng mặt ở thế giới Liên HoaĐài Tạng, thì Ngài có mặt ở nơi thế giới Ta Bà này. Đức Phật vắng mặt ởnơi cõi Ta Bà này, thì Ngài có mặt ở thế giới Liên Hoa Đài Tạng, ĐứcPhật xuất hiện trên cõi đời này, Ngài không đi trên hoa Sứ, Ngài khôngđi trên hoa Cúc. Mặc dù, hoa Cúc được xem là biểu tượng cho những nhàẩn sĩ, đạo sĩ.

Nhưng Đức Phật không xuất hiện trên hoa Cúc, mà Ngài chỉ xuất hiệntrên hoa Sen thôi. Bởi vì, hoa Cúc không phải là vô nhiễm, hoa Cúckhông phải là “hoa nở Cúc hiện, hoa rụng Cúc thành”, mà chỉ có hoa Senmới có những đặc điểm như thế. Cho nên, Đức Phật mới xuất hiện trên hoaSen và Ngài đi bảy bước.

Tại sao Ngài đi bảy bước mà không đi tám bước hay một bước, mười bước?Bởi vì, sự cấu hợp của vũ trụ không ra ngoài con số bảy, sự có mặt củatất cả chúng ta không ra ngoài con số bảy: địa đại, thủy đại, hỏa đại,phong đại, không đại, tâm đại, thức đại.

Toàn thể vũ trụ hay sự hình thành của chúng sinh không ra ngoài bảyyếu tố này. Sự có mặt của chúng ta là do sự có mặt của bảy yếu tố trên.Và sự có mặt của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là sự có mặt của bảy yếu tốđó.

Chính từ bảy yếu tố đó, mà một vị thể nhập được cái “tri kiến Phật”thì sẽ thành tựu được bảy yếu tố giác ngộ, gọi là thất bồ đề phần. Bảyyếu tố: địa, thủy, hỏa, phong, không, tâm, thức tạo nên hình hài, tâmtrạng, tinh thần của mỗi chúng sinh, thì bảy yếu tố là “thất bồ đềphần” tạo nên của Đấng Giác Ngộ.

Cho nên bảy yếu tố tạo nên chúng sinh và bảy yếu tố tạo nên ĐấngGiác Ngộ. Bởi vậy, Đức Phật xuất hiện trên cõi đời này, Ngài không đitám bước mà Ngài đi bảy bước thôi!

Ý nghĩa thứ tám:

Thế thì, ngày hôm nay chúng ta làm lễ kỷ niệm Đức Phật ra đời, có phảirằng chúng ta chỉ biết nấu vài chén chè, vài dĩa xôi đặt lên bàn Phậtkhông? Chúng ta có thể nấu vài dĩa xôi, vài chén chè đặt trên bàn Phậtvới tâm hồn nào? Chúng ta đặt trên bàn Phật với tâm trạng một lữ kháchđang thực tập khai Phật tri kiến, thị Phật tri kiến, ngộ Phật tri kiến,nhập Phật tri kiến thì chè, xôi đó cũng trở thành pháp lạc, cũng trởthành đề hồ. Trái lại, chúng ta đặt xôi, chè lên bàn Phật với u mê,tham lam, ích kỷ, hẹp hòi, tầm thường, hèn mạt, thì xôi, chè đó trởthành đất, đá.

Thưa quý vị!

Chúng ta làm lễ kỷ niệm ngày đản sinh của Đức Phật, chúng ta phải làmthế nào đó để Đức Phật trong chúng ta phải ra đời mỗi ngày. Chúng talàm lễ Đức Phật đản sinh, nghĩa là chúng ta có khả năng làm cho ĐứcPhật trong ta đản sinh mỗi ngày và chúng ta làm được như thế là chúngta rất giàu!

Chứ chúng ta không đợi 365 ngày mới đến chùa làm lễ đản Sinh, Phậttử đâu mà nghèo nàn đến như thế, tu hành đâu mà tội nghiệp như thế!

Chúng ta phải làm như thế nào đó để Đức Phật trong chính chúng tađản sinh mỗi ngày và mỗi ngày chúng ta phải thấy được Phật đản sinh.Còn ai mà không có khả năng làm cho Đức Phật của mình đản sinh hằngngày, thì cứ đợi đi!

Lo về chợ Đông Ba mà mua bán cho gắt, tới các cơ quan mà làm việccho gắt, rồi đợi 365 ngày đến chùa Từ Đàm mà làm lễ, đến chùa PhướcDuyên mà làm lễ, đến chùa Từ Hiếu mà làm lễ và nếu rủi ro, không gặpngày chủ nhật, mình phải đi thi hoặc đi chấm thi… thì coi như ĐứcPhật tắt ngòi, hết ra đời luôn! Hết đản sinh luôn!

Còn nếu chúng ta thông minh, chúng ta biết làm cho Đức Phật chúng tađản sinh mỗi ngày, thì Ma vương phải khóc, quỷ thần phải khóc, những kẻmanh tâm phá hoại Phật giáo phải khóc, phải giong tay đầu hàng.

Chúng ta có khả năng làm cho Đức Phật chúng ta ra đời mỗi ngày, thìchúng ta không cần phải xin phép ai để tổ chức đại lễ cả. Nhưng vì umê, chúng ta không làm cho Đức Phật trong chúng ta đản sinh mỗi ngày,nên chúng ta phải xin phép tổ chức lễ Phật Đản.

Cho nên, chúng tôi nói với tất cả quý vị là Phật tử thì chúng taphải thông minh, làm cho Phật trong mỗi chúng ta đản sinh mỗi ngày vàmỗi ngày chúng ta được đỉnh lễ Phật đản sinh của chúng ta, đó mới thậtsự là người đệ tử của Phật làm lễ kỷ niệm đản sinh một cách thông minh,một cách tài tình, một cách có trí tuệ và là một phương tiện thiện xảo.

Ta mới có khả năng đi những bước vững chãi trên những hoa Sen, còn nếu không thì chỉ là hoa Sen vẽ trên giấy mà thôi.

Trước khi dứt lời, cầu nguyện Tam Bảo gia hộ cho tất cả quý vị sống một cuộc đời luôn luôn có Phật Đản Sinh.

Thích Thái Hòa

(nguồn: phattuvietnam)