Hiệu ứng thoả hiệp xã hội (2)

78

Lý giải hiện tượng thoả hiệp:

* Lý thuyết thông tin về tính thoả hiệp.

Gerard H.B. là người đầu tiên đã cố gắn kết hành vi thoả hiệp của cánhân với quá trình anh ta tìm kiếm thông tin trong nhóm. Các kết quảnghiên cứu đã đưa tác giả đến việc xây dựng lý thuyết thông tin về tínhthoả hiệp. Theo lý thuyết này thì cần phải xem tính thoả hiệp như mộtphần của một quá trình chung hơn liên quan đến hiệu quả tìm kiếm thôngtin trong những hoàn cảnh mà chủ thể so sánh và đánh giá hành vi củabản thân với hành vi của người khác. Sự tìm kiếm này xuất hiện khi màchủ thể mong muốn giảm bớt tình trạng không ổn định mà anh ta gặp phảikhi ở một hoàn cảnh nào đó. Quá trình thông tin được thực hiện nhờ haidạng so sánh xã hội khác nhau: đánh giá so sánh và đánh giá phản ánh.Trong trường hợp thứ hai, xuất phát từ hành vi của người khác có liênquan đến bản thân, cá nhân hình thành ấn tượng về mình, Gerard còn phânbiệt hai loại phụ thuộc vào người khác: sự phụ thuộc thông tin và sựphụ thuộc ảnh hưởng. Loại phụ thuộc thứ hai được quy định bởi sự có mặtcủa người khác như là nguồn gốc của thông tin, hoặc bởi sự tồn tại uylực của một người nào đó đối với nhóm. Hai loại phụ thuộc này làm chocá nhân trở nên nhạy cảm hơn đối với tác động xã hội. Theo Gerard, đánhgiá phản ánh dựa vào cả hai loại phụ thuộc trên, còn đánh giá so sánh,về cơ bản, bao hàm loại phụ thuộc thông tin. Như vậy, cách tiếp cậnthông tin đã cho phép nhìn nhận hiện tượng thoả hiệp như một khía cạnhcủa quá trình so sánh xã hội, nó giải thích hành vi thoả hiệp như mộtbiểu hiện của khuynh hướng so sánh của cá nhân.

Nhiều nghiên cứu thực nghiệm của các tác giả khác nhằm kiểm tra lýthuyết thông tin đã chứng minh tính hiện thực của cách tiếp cận này.

* Một số người khác xuất phát từ lý thuyết trao đổi tâm lý để giảithích hành vi thoả hiệp. Homan G.C. nhìn nhận sự trao đổi dưới góc độhành vi nhóm. Ông khẳng định rằng, cá nhân có hành vi thoả hiệp khôngphải vì muốn tuân theo chuẩn mực nhóm, mà vì mục đích muốn nhận được sựtán đồng của các thành viên khác trong nhóm. Hollander E.P. và WillisR.H. cũng có cách nhìn tương tự. Họ nhấn mạnh chức năng phương tiện củahành vi thoả hiệp và coi hành vi đó như một phần thưởng đặc biệt đốivới các thành viên khác trong nhóm. Với quan điểm thực dụng, họ chorằng hành vi thoả hiệp sẽ làm cho quá trình tác động qua lại giữa cácthành viên trong nhóm thuận lợi hơn, và nó thúc đẩy việc trao đổi phầnthưởng sau này.

* Mô hình chức năng hoá các tác động xã hội.

Theo mô hình này, hành vi của cá nhân trong nhóm được nhìn nhận như mộtquá trình thích ứng với môi trường xung quanh. Thúc đẩy quá trình này,hành vi thoả hiệp trên thực tế đã xuất hiện như là một yêu cầu của hệthống xã hội nói chung và của nhóm nói riêng đối với các thành viên củanó với mục đích xây dựng giữa các thành viên một sự nhất trí giúp tạora sự cân bằng trong hệ thống. Vì vậy, các cá nhân tuân theo chuẩn mựcnhóm được nhìn nhận như là đã thực hiện chức năng và thích ứng vớinhóm, còn những cá nhân không tuân theo chuẩn mực nhóm – không thựchiện chức năng và không thích ứng với nhóm.


Hoa Lê (VTLH)