Tâm linh huyền bí nơi Tây Tạng

90

Từxưa đến nay có nhiều nhà nghiên cứu chuyên nghiệp và cả những người”nghiệp dư” muốn tìm hiểu về hiện tượng tâm linh, đã đi sâu vào nhữngnơi mà họ cho là trung tâm của các sự kiện huyền bí, để chứng kiến tậnmắt những hiện tượng lạ lùng không thể giải thích được…

Khám phá

Nhiềunhà khoa học và dân tộc học nổi tiếng như James Frazer, R. Muller,William Halse Ricers, Ions Veronica, Mbiti John, Wentz W. E, OsborneHarold… đặc biệt là một người phụ nữ, một nữ văn sĩ tên là AlexandraDavid Neel đã đơn phương độc mã trèo đèo vượt núi trong tuyết lạnh đểvào xứ sở của “đỉnh trời” là xứ Tây Tạng không ngoài mục đích là tìmhiểu tận nơi những gì thuộc lãnh vực siêu linh huyền bí. Nhờ đó mà thếgiới Tây phương mới biết được những cuộc sống lạ lùng của các vị Lạt MaTây Tạng, nhất là biết về những năng lực tâm linh kỳ bí của những vị sưsống trong hang động, nơi mà “Trời” và “Đất” gần như giao hoà với nhauthành một thể.

Điểmđặc biệt đáng nhắc đến là nơi đây các vị sư đều có khả năng cao về nhậnthức, họ có thể hiểu nhau qua không gian hơn là biểu lộ bằng lời nóihay hành động. Nhờ khả năng đọc đượctư tưởng người khác mà nhiều vị Lạt Ma Tây Tạng biết trước được nhữnggì mà người khác đang dự tính trong đầu. Ngoài ra nhữngvị này còn có khả năng phân tích vầng màu sắc toả ra từ đầu bất cứ aiđể từ đó biết được ý tưởng tốt hay xấu mà người đó đang dự định. Đâychính là nguồn năng lực của con mắt thứ ba đã được nhiều tài liệu nhắctới với tên gọi là “Thần nhãn” hay “Huệ nhãn“.

Trởlại vấn đề khả năng thông hiểu ý tưởng người khác cũng như thấy rõ vàphân biệt vầng màu mà các vị Lạt Ma Tây Tạng có được thì đó lại là sựkiện có vẻ bình thường đối với người dân Tây Tạng. Lý do dễ hiểu là từtấm bé, họ đã được cha mẹ kể cho nghe chuyện cổ tích về người Tây Tạngthời cổ xưa, theo chuyện cổ này thì thời xưa ấy, người Tây Tạng ai cũngcó một “nhãn lực” đặc biệt, nhãn lực này không phải từ đôi mắt thôngthường của con người mà là từ một con mắt thứ ba này mà người xưa gọilà Thần nhãn hay nói theo kinh điển là Huệ nhãn. Về sau, vì con ngườibị lôi kéo dần vào đường vật chất, ích kỷ, tham lam, sân hận, mê mờ nêntrí óc không còn trong sạch, sáng suốt. Cuối cùng như tấm gương bị bụimờ che kín, con mắt thứ ba trở thành u tối không còn sử dụng được nữa.

Cácnhà nghiên cứu về Huệ nhãn đã bắt gặp trong giới động vật hình ảnhtrung thực nhất về con mắt thứ ba một cách rõ rệt không chối cãi. Tuynhiên câu hỏi tại sao lại có sự hiện hữu và công dụng thực tế thì lạicòn lắm mơ hồ. Đặc biệt lạ lùng là ngay trong giới động vật có xươngsống cấp dưới thì lại thấy hiện một cấu tạo giống như cấu tạo mắt bìnhthường, nghĩa là cũng có dây thần kinh, thuỷ tinh thể và võng mạc… Ngay cả loài cá, lưỡng thê, bò sát, chim, cả động vật có vú kể cả con người cũng đều có dấu tích con mắt thứ ba.

Khikhảo sát bộ xương của loài khủng long thời tiền sử, các nhà cổ sinh vậthọc cũng chú ý tới một chỗ lõm nơi phần sọ của loài bò sát khổng lồ nàyvà đã đoán nơi đây là vị trí của một cơ quan thị giác hay nói theo suytưởng của sự kiện đang bàn là “con mắt thứ ba”. Công dụng của con mắtnày có lẽ để giúp các loài động vật thời cổ không những thấy mà cònbiết thêm hay cảm nhận trước được tình trạng chung quanh như mưa, giónhất là các vật thể nằm khuất ở vị trí phía trên đầu.

Khai mở “Huệ nhãn”

Nhữngkhám phá mới đây nhất (vào năm 1996) từ một số nhà khoa học đã cho biếtlà trong não người có một tuyến tuy rất nhỏ, chỉ bằng hạt đậu xanhnhưng nhiệm vụ của tuyến này rất kỳ diệu, chỉ tiết ra loại nhân hoá tốđặc biệt với một lượng rất nhỏ trong trường hợp con người đang chú tâmcầu nguyện với tất cả thành tâm, hay vào các giai đoạn con người ở tìnhtrạng nguy biến, thập tử nhất sinh. Cái tuyến lạ lùng đó là tuyến Tùng quả (Pineal gland).Khi phân hoá tố của tuyến đi vào máu thì cơ thể sẽ có những phản ứng kỳdiệu bất ngờ mà lúc bình thường không có được. Các nhà sinh vật học cònkhám phá ra rằng tuyến Pineal gland còn có liên quan tới bộ phận mà người Tây Tạng gọi là con mắt thứ ba.

Chỉnhững ai chịu vứt bỏ lòng tham luyến sân si mê mờ, quyết tâm giữ lòngtrong sạch và tu trì mới có được Huệ nhãn. Chính phần lớn các vị Đại sưTây Tạng, những người ẩn cư nơi vùng núi cao tuyết giá hay trong cácĐạo viện thâm nghiêm là có thể có năng lượng “thượng thừa” ấy mà thôi.Tuy nhiên, theo các vị Đại sư thì không phải tất cả các vị chân tu TâyTạng đều có Thần nhãn hay Huệ nhãn như ta tưởng, vì muốn có được Thầnnhãn thì ngoài hội đủ các điểm cần yếu như đã nói trên, còn phải cóThần lực đặc biệt kết hợp với các pháp môn tu luyện cao siêu mới được.

Kỳ 3: Tâm linh huyền bí nơi Tây Tạng

Phép tu luyện cao siêu đó có mục đích là để khai mở Huệ nhãn. Mộtkhi đã có Huệ nhãn rồi thì dù ngồi tĩnh toạ trong viện, nơi núi cao haytrong rừng sâu vẫn có thể thấy được những gì xảy ra ở khoảng cách rấtxa, hay chuyển di tư tưởng đến một nơi nào đó cho ai.

TạiTây Tạng, nhiều Đạo viện thường có những buổi thực tập về phép chuyểndi tư tưởng giữa các hàng đệ tử trong giai đoạn tu luyện các phép thầnthông. Phương cách thực tập rất khoa học, lúc đầu hai người đệ tử ngồicạnh nhau để chuyển tư tưởng cho nhau. Khi bắt được tư tưởng của nhaurồi thì khoảng cách tĩnh tạo giữa hai người này sẽ ở vị trí xa hơn.

Cứthế mà về lâu về dài họ có thể đạt tới khả năng truyền tư tưởng chonhau qua khoảng cách rất xa: hoặc từ đạo viện này đến đạo viện khác, từhang động này đến hang động khác. Theo bà Alexandra David Neel thì dãyHy Mã Lạp Sơn tuyết phủ im lìm hoang vắng nhưng lại là nơi các nguồn tưtưởng của các vị ẩn tu giăng bủa khắp nơi nơi…