Các hoàng đế VN quan tâm phát triển thủy quân ra sao?

16
Hải cốt thuyền


Hồ Quý Ly, hoàng đế đầu tiên cải cách thủy quân

Nhằm tăng cường hơn nữa sức chiến đấu của thủy quân, sau khi lên ngôi,Hồ Quý Ly đã tiến hành nhiều cải cách quân sự. Về thủy quân, bên cạnhcác loại chiến thuyền theo mẫu cũ như lâu thuyền (thuyền lầu), lưỡngphúc thuyền (thuyền hai đáy), mẫu tử thuyền (gồm thuyền mẹ và thuyềncon, chuyên dùng đánh hỏa công)… ông còn bí mật cho đóng một loạithuyền lớn là thuyền đinh sắt gọi là Trung tàu tải lương, Cổ lâu thuyềntải lương.

 
Đến năm Giáp Thân (1404) con ông làHồ Hán Thương lúc này đã nối ngôi, tiếp tục cho làm nhiều thuyền đinhsắt để phòng quân Minh.

d
Lâu thuyền

Loại thuyền Trung tàu tải lương, Cổ lâu thuyền tải lương có hai tầng,tầng trên lát ván sàn tiện cho việc đi lại, chiến đấu. Tầng dưới chialàm hai ngăn với nhiều khoang, phía trên để giấu lính, phía dưới dànhcho đội lính chèo với hàng dãy mái chèo dọc theo 2 bên thân thuyền.Điều đặc biệt, đây là loại thuyền vừa vận tải quân lương, vừa đượctrang bị nhiều thần cơ pháo khiến thủy binh của giặc Minh nhiều phenkhiếp đảm kinh hồn, bị nhiều tổn thất.

Tiếc thay, vì không được lòng dân ủng hộ nên cuộc kháng chiến của nhàHồ nhanh chóng thất bại, nước ta bị giặc Minh đô hộ, lực lượng quân độinói chung và thủy quân nói riêng dù mạnh nhưng không đủ sức cứu nổivương triều này.

Lê Thái Tổ, hoàng đế đầu tiên quy định nghi thức, cờ hiệu thủy quân

Ngay trong năm đầu tiên ở ngôi vua, Lê Thái Tổ đã ban hành quy chế cụ thể cho lực lượng thủy quân cũng như vũ khí cho binh lính.

 
Sách Đại Việt sử ký toàn thưcho biết vào ngày mồng 10 tháng 8 năm Mậu Thân (1428), vua “định cáckhí vật như cờ xí, nghi trượng cho các quân, chiến khí và thuyền ghe:trung đội cờ vàng, thượng đội cờ đỏ, hạ đội cờ trắng. Mỗi vệ một lá cờlớn của chủ tướng. Mỗi quân một lá cờ hạng trung, 10 lá cờ đội và 40 lácờ nhỏ. Thuyền chiến dùng vào hỏa công 10 chiếc, thuyền nhỏ đi tuầnthám hai chiếc.
 
Ngoài ra, ống phun lửa loại đại tướngquân một chiếc, loại lớn 10 chiếc, loại trung 10 chiếc, loại nhỏ 80chiếc. Nỏ mạnh 50 cái, câu liêm 50 cái, giáo dài 50 cái, phi liêm 40cái, mộc mỗi người một chiếc. Phi tiêu hạng nhất dùng mỗi người bốnchiếc, hạng nhì dùng mỗi người 3 chiếc; dao to mỗi người 1 con. Mỗiquân dùng một người làm Sao quân (người thư lại biên chép –TG), mỗi độidùng một người làm Sao đội”.

Sử sách còn cho biết ngoài trang phục chung giống như các lực lượngkhác, thủy quân thời Lê sơ đội nón thủy ma và nón sơn đỏ để có sự phânbiệt.

Lê Thánh Tông, người đầu tiên ban hành quân lệnh thủy trận

Hoàng đế Lê Thánh Tông có lần nói với quần thần rằng: “Phàm có nhà nướctất có võ bị”, do đó vua rất quan tâm đến việc xây dựng quân đội đểtrấn áp nội loạn và bảo vệ đất nước. Bên cạnh bộ binh, kị binh, tượngbinh… thì thủy binh cũng đã trở thành một binh chủng độc lập với việcchia thành nhiều phiên hiệu rõ ràng như: Thiện Hải thuyền, Đấu thuyền,Lâu thuyền, Tẩu Kha thuyền, Khai Lãng thuyền, Hải Cốt thuyền…với hìnhdáng, cấu trúc, chạm khắc, màu sắc, cờ hiệu khác nhau.

Năm Ất Dậu (1465), lần đầu tiên phép duyệt thủy trận và quân lệnh thủy trận được ban hành cụ thể, sách Đại Việt sử ký toàn thưcho biết: “Ban hành phép duyệt tập trận đồ thủy bộ. Về thủy trận thì cónhững đồ pháp như: Trung hư, Thường sơn xà, Mãn thiên tinh, Nhạn hàng,Liên châu, Ngư đội, Tam tài hành, Thất môn, Yến nguyệt… Lại ban 31điều quân lệnh về thủy trận…”.

Chính nhờ sự quan tâm đến xây dựng quân đội, trong đó có thủy binh nênthời Lê Thánh Tông, đội chiến thuyền lớn nhất lịch nước ta đã được hìnhthành; vào năm Kỷ Sửu (1469), Lê Thánh Tông đã huy động một phần trongsố đó đi chinh phạt Chiêm Thành. Theo sử sách, ngoài lực lượng bộ binhthì có tới 25 vạn thủy quân và 5000 chiến thuyền do nhà vua đích thânchỉ huy trong cuộc Nam chinh đó.

Lê Chân Tông từng sai thủy quân Bắc tiến, cứu được vua Thanh

Khi thấy triều đình nhà Minh ngày càng suy yếu, phía Bắc liên tục bịngười Mãn Thanh tấn công uy hiếp, nhận thấy đây là cơ hội có thể thulại một số vùng đất bị xâm lấn từ trước nên vào năm Bính Tuất (1646),vua Lê Chân Tông sai Trịnh Lãm làm Thống lĩnh, Ngô Sĩ Vinh làm Đốc đồngđem 300 chiến thuyền vượt biển sang đánh Quảng Đông.

 
Tình cờ khi chiến thuyền Đại Việttới, gặp lúc vua Thanh đang bị quân Minh vây khốn, hai tướng liền dẫnquân xung trận giúp giải vây. Sau này nhớ ơn cứu mạng, vua Thanh Thế Tổđã gửi vật phẩm ban thưởng.
 
Riêng Ngô Sĩ Vinh vì có công lớn nhấtnên vua Thanh sai Đốc học Hứa Khải Mông mang sang tặng ba bức trướnggấm và phong làm “Lưỡng quốc công thần”. Ngoài ra còn có bài thơ tặngriêng vị tướng này trong đó có câu: “…Cô ảnh thượng linh đao vị đoạn/Ngưng nghiêm do hỷ phát như sơ/Mông hưu cường hặng do kinh lộ/ Mộc ảnh cô can độc khoái dư…”(Giáo thiêng bị chặn thân còn sống/Mái tóc y nguyên vui chiến công/Quân địch hùng cương đà run sợ/ Công ông sáng tựa áng mây hồng).

Thủy quân của vua Gia Long khiến Anh quốc kinh hoàng

Thủy quân nước Việt thời chúa Thượng (Nguyễn Phúc Lan) đã đụng độ vàđánh bại chiến thuyền của Hà Lan, một trong những quốc gia có lực lượngthủy quân hùng mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ. Sự kiện này được ghichép nhiều trong các tài liệu, sách sử của Việt Nam và cả của các nhàbuôn, giáo sĩ phương Tây. Tuy nhiên có một trận thủy chiến khác cũngoanh liệt không kém nhưng ít được sử sách và người đời nhắc đến. Trongtrận chiến này, thủy quân Anh quốc, cũng là một lực lượng hùng mạnhtrên thế giới, đã phải nếm mùi thất bại.

Theo sách Việt sử toàn thư,do nhiều lần đưa thư xin ngoại giao, thông thương đều bị khước từ nênnăm Qúy Hợi (1803) nước Anh Cát Lợi (Anh) cho một hạm đội gồm 7 chiếctàu từ biển Đông theo đường sông vào Hà Nội gây hấn, bị quân ta vâyđánh, đốt cháy nhưng không dám lên tiếng phản đối.

Một tài liệu khác là cuốn Thanh triều sử lượccủa Tá Đằng Sở Tài thì cung cấp một thông tin rất thú vị: “Bấy giờngười cầm đầu binh lính Anh Cát Lợi đóng ở  Ấn Độ nghe biết bên nước AnNam, họ Nguyễn mới tân tạo, ở chỗ sơ hở có thể thừa cơ được, bèn đemhơn 10 chiếc tàu chiến kéo vào cửa sông Phú Xuân. Người An Nam rút hếtthuyền núp ở trong nội cảng. Vài trăm dặm không có bóng người…

 
Đêm đến, thình lình có tới 110 chiếcthuyền nhỏ tiến ra miền hạ du của nội cảng, theo chiều gió thuận, nhândòng sông xuôi, đánh hỏa công. Người Anh không có đường chạy! Bảy chiếctàu vào trước đều bị đốt cháy, những chiếc còn ở ngoài biển cũng sợ sệttrốn nốt. Thẹn không dám về nước, bọn người Anh ấy kéo sang Quảng Đôngtoan chiếm Áo Môn song không trôi, lại rút đi”.

Vua Minh Mạng đóng tàu thuyền theo mẫu của châu Âu

Minh Mạng là vị hoàng đế rất quan tâm đến việc học hỏi, tiếp thu tiếnbộ khoa học kỹ thuật của phương Tây, trong đó có việc cải tiến kỹ thuậtđóng thuyền. Không chỉ chú trọng gia tăng số lượng, mà vua còn cho tăngchủng loại tàu thuyền. Theo sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, năm Mậu Tý (1828) vua ấn định số lượng các loại thuyền cần đóng ở các địa phương.

Tinh thần tiến bộ của Minh Mạng được sử sách ghi nhận rõ. Ví dụ cuốn Quốc sử di biêncho biết vào tháng 4 năm Canh Dần (1830) “vua nghe nói ngoại quốc có xehỏa, tàu thủy và nhiều vật lạ, sai lũ (Đặng) Khải đi Lã Tống, Tây dươngđể mua”.

Quy chế thủy quân cũng được Minh Mạng cải tiến, ông định kích thước vàkiểu dáng cho từng hạng thuyền, thống nhất trong phạm vi cả nước để cácxưởng thuyền theo các quy thức đó mà đóng. Đặc biệt, Minh Mạng đã chođóng thuyền bọc đồng theo mẫu của người Pháp. Vào năm Nhâm Ngọ (1822),vua cho mua một chiếc thuyền bọc đồng của Pháp đưa về Huế, đặt tên làĐiện Dương, để làm mẫu cho các xưởng đóng thuyền tại kinh đô nghiêncứu, triển khai đóng theo mẫu.

 
Sách Khâm định Đại Nam thực lục chobiết tháng 6 năm ấy, vua “sai Thống chế thủy sư Phan Văn Trường coiđóng thuyền hiệu theo kiểu Tây dương”. Chiếc thuyền bọc đồng đầu tiênhoàn thành được đặt tên là Thụy Long; sau đó hàng hoạt thuyền bọc đồngđược đóng thêm chủ yếu là thuyền chiến, một số là thuyền dùng trong cácchuyến công cán ở nước ngoài.

Sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ cho biết thuyền bọc đồng được phân thành 4 hạng khác nhau là hạng rất lớn, hạng lớn, hạng vừa, và hạng nhỏ.

Ngoài thuyền bọc đồng, năm Mậu Tuất (1838) Minh Mạng cho mua một chiếctàu máy hơi nước cũ của Pháp đem về tháo ra nghiên cứu để lấy mẫu đóngthử, đến tháng 4 năm sau chiếc tàu máy hơi nước đầu tiên của nước tađóng xong và chạy thử thành công. Tháng 10 cùng năm đó chiếc tàu máyhơi nước thứ 2 cũng được hoàn thành. Từ đó, vua xây dựng quy thức đóngtàu máy hơi vào năm Canh Tý (1840) với “thân rộng 7 thước 5 tấc, dàitrên dưới 4 trượng, nhưng thân không quá sâu, khoảng 1 trượng, để dễdàng di chuyển trên các dòng sông” (Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ).

Vua Thiệu Trị cho diễn tập đường thủy ra nước ngoài

Lên ngôi đầu năm Tân Sửu (1841), Thiệu Trị tiếp tục cho tiến hành đổimới thủy quân như thời vua cha Minh Mạng. Ông đã cho sửa chữa một sốtàu, nâng vận tốc lên cao hơn, cho đóng thêm 2 chiếc tàu máy hơi nướcvà mua một chiếc tàu máy hơi nước mới dài 9 trượng 5 thước 7 tấc, rộng1 trượng 5 thước 1 tấc, sâu 6 thước, đặt tên là Điện Phi. Đây là chiếctàu máy hơi nước lớn nhất mà triều Nguyễn sở hữu.

 
Điều thú vị là với mục đích kiểm trakhả năng của tàu thuyền bằng việc diễn tập thủy trình với tuyến đi xa,kết hợp với hoạt động thương mại nên vào năm Bính Ngọ (1846) vua ThiệuTrị sai Thị lang bộ Hộ là Tôn Thất Thường và Lang trung Nguyễn CôngNghĩa dùng thuyền lớn đi sang Giang Lưu Ba (Batavia thuộc Indonesiangày nay); Thự lang trung bộ Công là Vũ Đình Ý và viên ngoại lang ĐỗTuấn Đại đáp thuyền to sang Tân Gia Ba (Singapore ngày nay) để “diễntập đường thủy, nhân tiện mua các thứ hàng hóa”.

Vua Tự Đức thành lập đội tuần duyên đầu tiên

Trước sự hoành hành của cướp biển Tầu Ô, nhận thấy thủy quân triều đìnhkém khả năng trong việc truy quét cướp biển nên sau khi nhận được bảntấu của đại thần Bùi Viện gửi ngày mồng 8 tháng 7 năm Bính Tý (1876) đềnghị lập một “đội hải quân đi tuần khắp miền duyên hải nước ta” vớinhiệm vụ “vận tải lương tiền của nhà nước, hộ vệ các nhà buôn và trừdiệt những giặc bể còn đương hoành hành ở Đông hải”, vua Tự Đức đã đồngý cho lập lực lượng Tuần dương quân thuộc Nha tuần hải do chính BùiViện phụ trách với chức phong Thương chính tham biện kiêm Tuần hải nhachánh quản đốc.

 
Lực lượng Tuần dương quân có quânluật riêng gồm 12 điều và được chia làm hai nhóm là Thanh đoàn đội mũvải mặc áo nẹp xanh và Thủy dũng đội nón dấu mặc áo nẹp đỏ, thuyền củahọ gọi là thuyền tuần dương dùng để tuần tiễu, canh phòng mặt biển vàchống hải tặc. Tuần dương quân còn được bố trí tại các chi điếm của Nhatuần hải ở nhiều thương cảng, cửa biển trọng yếu.

Từ khi thành lập, Tuần dương quân đã giao chiến nhiều trận với giặcbiển Tầu Ô, có lần truy đuổi chúng đến tận đảo Hải Nam. Dần dần cáctuyến hàng hải trở lại yên ổn, các cửa biển trở nên sầm uất, tàu thuyềnra vào buôn bán ngày một nhiều. Tiếc rằng lực lượng tuần duyên đầu tiêncủa nước ta tồn tại không được lâu, ngay sau cái chết đột ngột của BùiViện vào ngày mồng 1 tháng 11 năm Mậu Dần (1878), không ai có đủ khảnăng và uy tín kế thừa vị trí của ông nên lực lượng này đã tan rã nhanhchóng.

Lê Thái Dũng (bee)