Giấc mơ của một người tu trẻ

75

Thân gửi các con của thầy, gần và xa!

Buổicông phu sáng trong sách Thiền Môn Nhật Tụng có một bài văn sám mà ngàyxưa khi còn làm sa di thầy rất thích tụng. Văn của bài sám rất hay, vànội dung của bài sám rất có công năng nuôi dưỡng chí nguyện của ngườitu. Mỗi lần tụng đọc bài sám, chú Phùng Xuân thường để cho lời kinh ômấp thấm sâu vào từng huyết quản, từng tế bào của cơ thể. Bài sám vănnày là một giấc mơ thật đẹp của người tu, và thầy rất biết ơn Thiền sưDi Sơn đã viết ra bài sám văn ấy. Các con cũng đã biết bài ấy rồi, đólà bài Sám Quy Mạng. Tên của nó là Phát Nguyện Văn. Tác giả bài Sám QuyMạng (Phát Nguyện Văn) này là Thiền sư Kiểu Nhiên đời Đường, văn chươngrất lỗi lạc. Những văn bia về các Thiền sư sơ kỳ Thiền Tông đều do mộttay Ngài viết. Di Sơn là tên núi; vì kính quý Ngài nên dân chúng gọiThiền sư là Di Sơn thay vì Kiểu Nhiên. Thiền sư họ Tạ, tự là Thanh Trú.Tác phẩm để lại cho đời là Trữ Sơn Tập, mười cuốn.

alt
Hàng trước từ trái qua phải: học tăng Long Nguyệt, học tăng Trí Không, học tăng Từ Mẫn
Hàng sau từ trái sang phải: học tăng Minh Hiện, học tăng Như Trạm , thầy giáo thọ Thích Nhất Hạnh

Trong sách Nhị Khóa Hợp Giải, Thiền sư Quán Nguyệt có nói: “Nếubạn không thích bài Sám Quy Mạng này thì có thể thay vào bằng một bàikhác như bài Khế Thủ, bài Thập Phương Tam Thế Phật, hay bài Nhất TâmQuy Mạng”. Nhưng ai lại không thích bài Sám Quy Mạng này? Thầy nghĩlà đã có biết bao nhiêu thế hệ người trẻ xuất gia đã được bài Sám nàynuôi dưỡng, vỗ về và an ủi. Hồi chưa tới tuổi hai mươi, thầy đã có ướcmơ dịch bài này ra quốc văn. Và giấc mơ ấy đã được thành tựu khi thầycòn là một vị giáo thọ trẻ tuổi giảng dạy tại Phật Học Đường Nam Việt.Thầy đã dịch bài Sám Quy Mạng ra tiếng Việt trong thể thơ lục bát.Nhiều vị học tăng và học ni thời ấy của Phật Học Đường Nam Việt (ChùaẤn Quang) đã học thuộc lòng. Và bài Sám ấy hiện đang có mặt trong sáchNhật Tụng Thiền Môn 2010 của chúng ta.

Phầnlớn những câu văn trong bài Sám đều là những câu bốn chữ hay sáu chữ,xen lẫn với nhau rất khéo léo, thành ra âm điệu bài tụng có lúc thì êmdịu, có lúc thật trầm hùng.

“Kiếpsau, nhờ hạt giống trí tuệ linh thiêng gieo trồng trong kiếp này, conxin được sinh trở lại trong một môi trường có văn hóa, lớn lên được gặpmột vị thầy sáng và được xuất gia từ hồi còn là thiếu nhi. Sáu căn củacon đều sẽ được thông lợi và ba nghiệp của con cũng sẽ được thuần hòa.Con sẽ không bị thói đời làm ô nhiễm và con sẽ sống một cuộc đời phạmhạnh thanh cao. Con sẽ hành trì các giới luật một cách nghiêm minh.Không vướng vào duyên nghiệp thế gian,con sẽ thực tập các uy nghi mộtcách nghiêm túc và con sẽ biết bảo hộ cho tất cả mọi loài chúng sanh,bắt đầu từ những sinh vật rất nhỏ bé”.

“Consẽ tu tập theo chánh pháp và liễu ngộ được giáo pháp Đại Thừa, nhờ vậymà con sẽ khai mở được cánh cửa hành động của lục độ và thành tựu đượcnhững gì mà các vị hành giả khác phải trải qua ba a tăng kỳ kiềp mớithành tựu được”

Đọcnhững đoạn vừa qua các con có thấy đó là một giấc mơ vĩ đại không? Nếukhông có hạt giống của  bồ đề tâm, nếu không có hạt giống của hạnhnguyện Bồ tát thì làm sao làm phát khởi được một ước muốn vĩ đại nhưthế?

Các con hãy cùng thầy đọc tiếp:

“Consẽ thiết lập được đạo tràng tu học khắp nơi khắp chốn, con sẽ phá tanđược muôn trùng mạng lưới của sự nghi ngờ. Con sẽ hàng phục được mọi machướng và sẽ truyền lại ngọn đèn chánh pháp để cho ba ngôi tam bảo sẽ mãi mãi tiếp tục ngời sáng trong tương lai. Con sẽ phụ tá cho chư Bụtmười phương mà không bao giờ cảm thấy mệt mỏi; con sẽ tu tập thành tựuđược tất cả các pháp môn. Con sẽ thực tập trên cả hai bình diện xã hộivà trí tuệ để làm lợi ích cho chúng sanh khắp nơi. Con sẽ đạt tới sáuphép thần thông và sẽ thành tựu được quả vị Phật đà ngay trong mộtkiếp”.

“Sauđó con sẽ không xa lìa pháp giới; trái lại con sẽ đi vào và có mặttrong vạn nẻo trần gian. Năng lượng từ bi của con sẽ không thua gì nănglượng từ bi của Bồ tát Quan Âm, đại dương hạnh nguyện của con cũng sẽbao la như đại dương hạnh nguyện của Bồ tát Phổ Hiền”

“Ngay trong cõi nầy và ở các cõi khác, con sẽ ứng hiện thành những sắc thân khác nhau để tuyên dương diệu pháp”

“Nơinhững nẻo đường địa ngục và quỷ đói, con sẽ hoặc phóng ra những đạo hàoquang lớn, hoặc tự mình hiện thần biến tướng: bất cứ ai thấy được dungmạo con hoặc nghe đến danh hiệu con đều có khả năng phát tâm bồ đề vàlập tức vượt thắng mọi khổ đau của kiếp luân hồi”

“Nhữngvùng đất cháy khô cằn như vạc lửa, hay những con sông băng tuyết lạnhgiá, con sẽ làm cho chúng biến thành những khu rừng thơm”

“Vàonhững thời mà tật dịch bệnh khổ lan tràn, con sẽ hóa hiện ra vô số dượcthảo thuốc men, chữa lành được cả những chứng bệnh trầm kha, gặp khinạn đói hoành hành, con sẽ hóa hiện ra gạo lúa dồi dào để giảm nghèocứu đói”

“Không có công tác nào làm lợi ích cho nhân gian mà con sẽ từ nan”

“Sauđó, con sẽ giúp cho tất cả mọi người, trong đó có kẻ thân và người thùtrong nhiều kiếp, cùng với bà con quyến thuộc đời này, để ai cũng cóthể buông bỏ được những sợi dây ái nhiễm ràng buộc, để cùng với tất cảchúng sinh thực hiện được đạo giác ngộ.”

“Hưkhông kia còn có thể có giới hạn, nhưng nguyện ước con thì không có chỗcùng. Con nguyện cho tất cả các loài, hữu tình và vô tình, đều đạt tớiquả vị nhất thiết chủng trí.”

Nhữnglời kinh trong Sám văn ngày xưa đã tưới tẩm hạt giống bồ đề của chú sadi nhỏ vào mỗi buổi sáng công phu. Không biết vì lý do gì mà chú cứ tinlà giấc mơ kia sẽ có thể thành tựu, dù chung quanh chú chưa có dấu hiệunào chứng tỏ được điều đó, và chưa thấy ai đang làm được điều đó.

Lờikinh quá đẹp khiến sau này thầy đã lấy chữ trong ấy để đặt pháp hiệucho các vị thọ giới tại Làng Mai. Ví dụ pháp tự Chân Hương Lâm của Sưthầy Đàm Nguyện ở Hà Nội. Hương lâm là những khu rừng thơm. “Nhữngvùng đất cháy khô cằn như vạc lửa hay những con sông băng tuyết lạnhgiá, con sẽ làm cho chúng biến thành những khu rừng thơm – hỏa hoạch băng hà chi địa biến tác hương lâm

Thậtlà vừa nên thơ vừa hợp với ý hướng bảo hộ sinh môi. Lời kinh quá hùngtráng thành thử mình có cảm tưởng mình không còn là một tín đồ đang cầuxin ơn phước, mà là một vị đại sĩ có thần lực độ đời rất vĩ đại: “Nănglượng từ bi của con sẽ không thua gì năng lượng từ bi của Bồ tát QuanÂm, đại dương hạnh nguyện của con cũng sẽ bao la như đại dương hạnhnguyện Bồ tát Phổ Hiền – đẳng Quan Âm chi từ tâm, hành Phổ Hiền chi nguyện hải” Người trì tụng Sám văn không còn mặc cảm thua kém nữa, và thấy mìnhcũng có thể làm được những gì mà các vị Bồ tát lớn đang làm. Những lờikinh như thế làm chấn động cả tâm can của người hành giả. “Bất cứai thấy được dung mạo con hoặc nghe đến danh hiệu con đều sẽ có khảnăng  phát tâm bồ đề và vĩnh viễn vượt thắng mọi khổ đau của kiếp luânhồi – phàm hữu kiến ngã tướng, nãi chí văn ngã danh, giai phát bồ đề tâm, vĩnh xuất luân giao hồi khổ.”  Và như thế thì con cũng sẽ không thua bất cứ một vị Phật nào hay một vị Bồ tát lớn nào trong quá trình hành đạo. 

Giấc mơ của bài sám Quy Mạng chỉ là giấc mơ suông hay một giấc mơ có thể biến thành hiện thực?

Nhiềuthế hệ hành giả, trong đó có các con, đã từng tụng đọc sám văn này, vàđã có thể từng đặt câu hỏi ấy. Ngày xưa, thầy không đặt câu hỏi ấy. Tuylà chung quanh mình chưa thấy dấu hiệu nào chứng tỏ  giấc mơ kia có thểtrở thành sự thực, nhưng thầy vẫn ôm ấp giấc mơ đó và tin rằng nó sẽtrở thành hiện thực. Những thập niên bốn mươi và năm mươi là những thậpniên của đói kém của chiến tranh. Giới xuất gia tìm đủ mọi cách để duytrì sự thực tập trong phạm vi chùa viện của mình nhưng cũng đã gặp phảikhông biết bao nhiêu khó khăn. Ngay những người trẻ trong giới xuất giacũng bị tù đày, thủ tiêu và áp bức. Là một thầy tu trẻ thầy đã từng đọclịch sử Lý Trần và đã thấy rằng nếu đạo Bụt đã có khả năng giúp cho đấtnước hùng mạnh và thái bình trong những triều đại ấy thì đạo Bụt cũngcó thể làm được như thế trong thời đại hiện tại. Tại sao không? Đó làcâu hỏi của thầy, dù đạo Bụt vào những thập niên ấy vẫn chưa thoát rađược trạng thái suy đồi cần phải vượt thoát. Có lẽ cái thấy ấy về đạoBụt Lý Trần đã cho thầy một niềm tin rằng giấc mơ của sám Quy Mạngkhông phải chỉ là một giấc mơ suông mà là một giấc mơ có thể trở thànhhiện thực.

Hồi còn là vị giáo thọ trẻ ở Ấn Quang, thầy đã dịch sám Quy Mạng với một ngôn ngữ khiêm cung. Nguyên văn: “Nănglượng từ bi của con sẽ không thua gì năng lượng từ bi của Bồ tát QuánÂm, đại dương hạnh nguyện của con cũng sẽ bao la như đại dương hạnhnguyện của Bồ tát Phổ Hiền” đã được Thầy dịch là “Mưa từ rưới khắp nhân thiên, mênh mông biển hạnh lời nguyền độ tha.”  Nguyên văn:“Bất cứ ai thấy được dung mạo của con hoặc nghe đến danh hiệu con đềusẽ có khả năng phát tâm bồ đề và vĩnh viễn vượt thắng mọi khổ đau củakiếp luân hồi”  đã được thầy dịch là: “Chỉ cần thấy dạng nghe danh, muôn loài thoát khỏi ngục hình đớn đau.”  Mấymươi năm ở hải ngoại không có cơ hội ôn lại bản dịch ấy, thầy chỉ cònnhớ được một vài đoạn. May quá, Hòa thượng Như Huệ, Viện chủ chùa PhápHoa (ở Úc Đại Lợi) trong dịp về chứng minh Đại Giới Đàn Nến Ngọc tổchức ở Làng Mai mùa Hè 1996 đã đọc lại cho thầy chép xuống toàn bài.Hòa thượng Như Huệ đã từng là học tăng trong Phật Học Đường Nam Việt,và đã học thuộc lòng bản dịch của Sám văn Quy Mạng. Nhờ đó mà bản dịchngày nay còn được giữ lại trong sách Nhật Tụng Thiền Môn. Thầy nghĩ làthầy trò chúng ta cần đọc tụng sám văn Quy Mạng ít nhất mỗi tuần mộtlần, để tâm bồ đề được tiếp tục nuôi dưỡng. Tâm bồ đề là nguyện ước, làgiấc mơ của người hành giả chân chính. Tâm bồ đề bị soi mòn thì chúngta không còn năng lượng để đi tới mà thực hiện giấc mơ.

Khuya nay, trong giờ thiền tọa, chúng ta hãy cùng nhau quán chiếu để thấy rằng giấc mơ kia đang từ từ biến thành hiện thực.

“Kiếp sau xin được làm người, sinh ra gặp pháp sống đời chân tu, dắt dìu nhờ bậc minh sư”, điều này ta đã thực hiện được.

“Sáucăn ba nghiệp thuần hòa, không vương tục lụy theo đà thế nhân, một lòngtấn đạo nghiêm thân, giữ gìn phạm hạnh nghiệp trần lánh xa”, đó là sự thực tập hành trì giới luật và uy nghi hàng ngày của chúng ta.

“Đạo tràng dựng khắp nơi nơi, lưới nghi phá hết trong ngoài sạch không”,đó là những gì mà thầy trò chúng ta đang nỗ lực thực hiện. Tăng thânhiện giờ đang có mặt khắp nơi, mỗi quốc gia trên thế giới đều có hàngchục hoặc hàng trăm đoàn thể tu học theo pháp môn chánh niệm, gọi làTăng thân chánh niệm (Communities of mindful living). Những thành phốlớn như: Nữu Ước, Luân Đôn, Los Angeles, Paris, Amsterdam, Berlin, đềuđã có nhiều Tăng thân. Những khóa tu tổ chức khắp nơi, những tác phẩmviết về đạo Bụt đi vào cuộc đời đã trở thành một mạng lưới chánh phápcó mặt khắp nơi, đang nỗ lực phá tan được những ngộ nhận và nghi ngờđối với đạo Bụt, cho thế giới thấy rằng đạo Bụt là một nền nhân bản cótính khoa học, không phải là tôn giáo thần quyền, mê tín dị đoan, tiêucực yếu đuối. “Lưới nghi phá hết trong ngoài sạch không” là như thế.

“Truyền đăng Phật pháp nối dòng vô chung”.Chúng ta đã đào tạo được khá nhiều các vị giáo thọ và giáo thọ tập sự,xuất gia và tại gia, số người tiếp nhận truyền đăng cho đến nay đã lêntới trên 300 vị.

“Thuốcthang cứu giúp cho đời, áo cơm cứu giúp cho người bần dân, bao nhiêulợi ích hưng sùng, an vui thực hiện trong vòng trầm luân”. Đây là công tác xã hội, đây là một phần của đạo Phật ứng dụng, của đạo Phật đi vào cuộc đời.

Chúngta đã lập được Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội đào tạo trên 600 tácviên và và hàng ngàn trợ tác viên và cảm tình viên (làm việc công quảmà không nhận phụ phí), thành lập các Làng Hoa Tiêu và Làng Tự Nguyệnđể nâng cao phẩm chất sự sống ở nông thôn về cả bốn mặt giáo dục, y tế,kinh tế và tổ chức. Các tác viên xã hội đã làm việc cứu trợ nạn nhânchiến tranh, chăm sóc các trại tị nạn, có trại lên đến 11.000 người,thành lập các trung tâm định cư trên những vùng đất mới, tái thiết lạinhững làng bị bom đạn tàn phá. Chúng ta có Ủy Ban Tái Thiết và PhátTriển Xã Hội, làm việc với Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (1972- 1975). Chúng ta đã có chương trình bảo trợ trên 10.000 trẻ em mồ côivì chiến tranh. Chúng ta đã có chương trình Máu Chảy Ruột Mềm cứu trợthuyền nhân trên biển. Chúng ta đã thành lập tổ chức Pour les Enfantsdu Vietnam, rồi Partage avec les Enfants du Monde, cứu giúp cho trẻ em17 nước trong đó có Việt Nam. Chúng ta đã có chương trình Hiểu vàThương, để cứu trợ lũ lụt, giúp trẻ em nghèo thiếu ăn và thất học, mởlớp dạy nghề, xây cầu, đào giếng nước ngọt, mở những lớp học bán trú ởcác vùng sâu vùng xa, trả lương một ngàn cô giáo và bảo mẫu. (*)

Cáihay là ở chỗ trong khi làm công tác xã hội, các thành phần trong Tăngthân vẫn giữ được sự thực tập giới luật, thiền ngồi, thiền đi, xây dựngtình huynh đệ và học đi như một dòng sông…

“Không có công việc nào lợi ích cho nhân gian mà con sẽ từ nan – đản hữu lợi ích vô bất hưng sùng”, đó là hạnh nguyện của chúng ta.

Cácvị giáo thọ của chúng ta, trong đó có rất nhiều vị còn ở tuổi thanhxuân, đang thực sự mang đạo Bụt đi vào cuộc đời, một đạo Bụt nhập thế.Chúng ta đã mở những khóa tu đặc biệt để giúp cho mọi giới, những khóatu dành cho giới làm công tác xã hội, giới văn nghệ sĩ, tài tử điệnảnh… có khóa tu đông đến  2.000 người như khóa tại Washington DC chocác nhà tâm lý học và tâm lý trị liệu, những khóa tu dành cho giới giáochức, dành cho giới thương gia, dành cho giới y sĩ và y tá, dành chocác nhà chính trị và dân biểu quốc hội, dành cho giới cảnh sát và nhânviên công lực, giới tranh đấu cho hòa bình và nhân quyền, giới bảo hộsinh môi… Chúng ta đã đi vào các bệnh viện và các nhà tù để giúp tổchức tu tập và chuyển hóa…

Từđạo Bụt nhập thế chúng ta đi vào đạo Bụt ứng dụng. Chúng ta mở phongtrào Wake Up cho các bạn trẻ khắp nơi trên thế giới, những đoàn thể tutập theo chánh pháp để phục vụ cho một xã hội lành mạnh và có từ bi.Chúng ta lập Viện Phật Học Ứng Dụng, cung cấp các khóa tu cho giới phụhuynh có khó khăn với con cái, cho giới thanh niên thiếu nữ đang có khókhăn với bố mẹ, cho những ai vừa khám phá ra là mình bị bệnh nan y, chonhững ai có người thân mới mất. Ai cũng có thể đến để ghi tên học hỏivà thực tập mà không cần phải quy y. Chúng ta cống hiến đạo Bụt cho thếgiới không phải  một tôn giáo mà một nghệ thuật sống với những phươngpháp chuyển hóa và trị liệu… Chúng ta đang nỗ lực thực tập để bảo hộsinh môi, tự mình thực tập và kêu gọi mọi người thực tập sống như thếnào để có thể có được một tương lai cho trái đất, để chuyển ngược đượcquá trình hâm nóng địa cầu. Tu viện Lộc Uyển của chúng ta hiện giờ đãhoàn toàn chỉ sử dụng năng lượng ánh sáng mặt trời. Tất cả các đạotràng và các Tăng thân của chúng ta trên thế giới đang thực tập tiêuthụ trong chánh niệm, mỗi tuần có một ngày không sử dụng xe hơi, xe gắnmáy… Tất cả những điều này chứng tỏ là chúng ta đang quyết tâm thựchiện giấc mơ mà không phải chỉ ngồi đó để quán tưởng và để cho bài Sámru chúng ta trong một giấc mơ thật đẹp.

Trongnhững năm gần đây, đạo Bụt với sự thực tập chánh niệm đã dần dần đi vàocác lĩnh vực luật học, khoa học, y học và xã hội. Tinh thần bất nhị vàbao dung không kẹt vào giáo điều của đạo Bụt bắt đầu được thế giới nhậnbiết, và trên bước đường toàn cầu hóa đạo Bụt có thể góp phần quantrọng trong việc chế tác một nền tâm linh đạo đức toàn cầu. Chúng tabiết giấc mơ có thể và đang trở thành hiện thực. Nếu chúng ta không bịvướng vào địa vị, tiền bạc, tiếng khen, và những chức vụ, v.v… Nếuchúng ta biết đi với Tăng thân như một dòng sông mà không phải  như mộtgiọt nước riêng lẻ thì chúng ta sẽ có cơ hội nhiều hơn để thực hiệnđược giấc mơ. Có phải thế không các con? Thầy mong các con đọc xong thưnày thì góp ý với thầy.                              

                                                                                                                                                                                                         Thầy của các con,

                                                                                                                                                                                                               Nhất Hạnh

 ________________________

(*) Chúngta đã có những công tác tại các Xóm Nghèo Mã Lạng Quốc Thanh, Cầu BôngBàn Cờ, và các lớp trung học miễn phí đêm (bắt đầu từ năm 1961, củaĐoàn Sinh Viên Phật Tử Sài Gòn với các sinh viên Phật tử như: HuêDương, Chiểu, Khanh, Chi, Nhiên, và Phượng). Chúng ta bắt đầu lập LàngTình Thương với Sư anh Nhất Trí của các con, và các chú Tâm Quang vàTâm Thái với hơn 100 sinh viên Phật tử trong đó có các chị Phượng,Thảo, Thanh, Uyên, Trà Mi, Phùng Thăng, Nga và Tuyết, các anh Quyền,Trâm, Nguyên, Tích, Thanh, Tài (1964 – 1965) và bà Hiệu. Chúng ta đã tổchức những đoàn sinh viên đi lạc quyên để cứu lụt và cứu đói sau trậnHồng Thủy năm Giáp Thìn dọc theo hai bờ Sông Thu Bồn lên đến thượngnguồn. Chúng ta đã lập trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội (từ 1965 đến1975), Ủy Ban Tái Thiết và Phát Triển VN (từ 1971 đến 1975 dưới sự lãnhđạo của Hòa thượng Thiện Hòa) Các thầy Thanh Văn và Châu Toàn, Từ Mẫn,sư chú Phạm Phước… là những cánh tay Bồ tát  điều động hằng ngàn tácviên, trợ tác viên và cảm trình viên xã hội đã thực hiện được bao nhiêucông tác giúp cho hàng chục ngàn đồng bào nạn nhân chiến cuộc. Trongcông tác, mười bảy người trong chúng ta đã thiệt mạng trong đó có :Liên, Vui, Thơ, Tuấn, Hy, Lành và Sư anh Nhất Trí của các con. Cô Bùithị Hương bị mất một đoạn chân và anh Lê Văn Vinh phải suốt đời ngồi xelăn. Chị Nhất Chi Mai (chị Cả trong 6 người Tiếp Hiện đầu tiên của cáccon) đã đem thân làm đuốc, để kêu gọi hai bên lâm chiến ngưng chém giếtnhau (16.07.1967). Trong chương trình Máu Chảy Ruột Mềm trên biển NamHải, Cô Chân Không, anh Luke Fogarty, chị Trang Fogarty, chị KirstenRoep và chị Mobi Warren đã điều động vớt được 606 thuyền nhân trên biển(1976). Tiếp đó là chương trình thầm lặng cứu người bằng ghe đánh cátrên Vịnh Thái Lan do sư cô Chân Không tiếp tục điều động (1976 -1978). Sau đó, chúng ta đã thành lập chương trình giúp thuyền nhân ởcác trại tị nạn, an ủi và gửi phẩm vật cứu trợ, sách học Anh và Phápngữ, kinh Nhật Tụng cho các trại tị nạn như : Songklha, Trad, Sikkhiu,Chonburi… Chúng ta đã thành lập Chương trình Cứu Trợ Xã Hội Hiểu vàThương và hoạt động âm thầm  từ  năm 1975 tới bây giờ (2009). Tại hảingoại, đã có chương trình Hiểu và Thương ấy, hoạt động ở Hà Lan (cùngvới chị Kirsten Roep và bà Hebe Kohbrugge), ở Pháp có ba chương trình:Pour les Enfants du Viet Nam, Partage avec les enfants du Monde, vàPartage (cùng với anh Pierre Marchand). Trong hai chương trình sau,chúng ta đã hoạt động để giúp trẻ em đói trong 17 nước nghèo trên thếgiới trong đó có: Bangla Desh, Ấn Độ, Liban, Thái Lan, Brésil,Colombie… Chúng ta cũng có chương trình Từ Thị (Maitreya Fonds) tạiĐức do anh Chân Pháp Nhãn – Karl Schmied  và chị Chân Diệu chủ trươngvà đang được tiếp nối bởi anh Chân Giác Lưu Christian Kaulf. Tăng thânThụy Sĩ với chị Margrit Witwer và Tăng thân Ý Đại Lợi đã yểm trợ chochương trình Hiểu và Thương. Tăng thân Thuyền Từ của chị Chân Ý và anhChân Trí đã hỗ trợ hơn 600 trẻ em đói kém của chương trình Hiểu vàThương ở Quảng Trị và Thừa Thiên. Tăng thân Hoa Tuyết (Snow FlowerSangha) và anh Chân Thuyên bảo trợ cho hàng trăm giếng nước ngọt chocác gia đình đông con ở xa các vùng sâu vùng xa không có điện có nước.Anh Minh và chị Liên với chương trình Mắt Thương Nhìn Cuộc Đời năm nàocũng hợp tác với Tăng thân Toronto hỗ trợ rất nhiều nạn nhân lũ lụt đóikém. Tổ chức Hussman Foundation ở Hoa Kỳ đã bảo trợ 57 cô giáo và bảomẫu và hơn 700 trẻ em thiếu ăn vùng Bảo Lâm, Di Linh… cúng dường xâycất Thiền Đường ở Bát Nhã. Chị Lilian Cheung đóng góp xây dựng Ni ViệnDiệu Nghiêm và Diệu Trạm.  

alt
Bác Hiệu, chị Nga, chị Nhất Chi Mai chụp ở Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội, năm 1966
 

 

alt
Chị Nga, chị Uyên (Chân Đoan), anh Phúc, chị Phượng, anh Tài chụp trước trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội

Ngaynhững năm đầu 1975 – 1990, trong khi việc đi cứu đói còn rất  khó khăn,chúng ta vẫn len lõi mang được những món quà đến các trại cải tạo nhưtrại Hàm Tân (Ni sư Tịnh Nguyện và chị Thuần), đến các trại học tập khóđến như Hà Nam Ninh, Vĩnh Phú. Chúng ta cũng đã liên lạc được và bày tỏlòng ưu ái với những nhà văn không còn hứng khởi sáng tác (trong nhómNhân Văn Giai Phẩm ở Hà Nội) và tỏ bày niềm tin yêu đến cho họ để họ cócảm hứng sáng tác trở lại. Chúng ta cũng có dịp đem quà đến các vùngKinh Tế Mới đói kém, qua bàn tay nhân ái và cương trường của Ni sư TríHải và các đệ tử với chiếc ô tô chất đầy những thuốc men, gạo đường, áoquần và… những bài thuyết pháp bỏ túi tại chỗ. Qua các cánh tay củaanh Chân Thể Hòa và chị Thuần chúng ta gửi được gạo tiền cho đồng bàođói kém những vùng sâu vùng xa của đất nước trong những năm mà tìnhtrạng còn rất khó khăn. Bằng cánh tay của các bạn Chân Dụng Hòa, ChânHỷ Căn,  A, và Viễn chúng ta đã chăm sóc cho những người khuyết tật,hiến tặng thủy tinh thể cho người  mắt không còn sáng, yểm trợ cho cácbô lão cô đơn, thành lập các lớp bán trú, gây quỹ trả lương cho hàngtrăm cô giáo và thầy giáo, để đối phó với nạn thiếu dinh dưỡng của trẻem, để làm sao cho mỗi đứa bé ở các miền sâu miền xa mỗi bé có được ítnhất là một ly sữa đậu mỗi ngày, mỗi bữa cơm có đủ chất dinh dưỡng.

Ngàyxưa trước 1975, các Ni sư  lớn như: Cát Tường, Thể Quán  (Thừa Thiên),Thể Thanh (Cam Ranh), Như Huyền (Quảng Ngãi), Viên Minh (Nha Trang),quý thầy lớn như: Chánh Trực (Quảng Trị), Như Vạn, Long  Trí… (QuảngNam) đều đã là những cánh tay Bồ tát vươn ra rất xa để cứu độ nhângian, ngày nay các thầy như : Hải Ấn ở Huế, các Ni sư Đàm Nguyện (HàNội), Như Minh, Diệu Đạt, Minh Tánh (Huế), Hạnh Toàn (Quảng Ngãi), Nisư Giới Minh, thầy Pháp Lộ, sư cô Y Nghiêm, các anh Chân Giác Hạnh,Chân Hương Trí, Chân Hỷ Tịnh, anh Chân Hương Niệm, anh Chân Hỷ Căn, anhChân Tướng Hòa, chú Dũng, anh Đính, anh Đạm, anh Thông, anh Hải, anhViệt, anh Tân, cô Hương, cô Mai, cô Xuân, cô Tuyết, cô Phùng, cô Phụng,cô Thân, chị Chân Đoan… đều còn là những cánh tay hữu hiệu hiện đangcòn tiếp tục công  việc ấy. Cánh tay của Tăng thân dài lắm, dang duỗira và với tới những vùng sâu vùng xa, không những trong quê hương mà ởcả những vùng khác trên trái đất như Bangla Desh, Ấn Độ, Israel,Palestine… Cánh tay ấy đang xây dựng tình huynh đệ, khơi dậy niềm yêuthương qua những ngòi bút Chân Minh, Chân Huyền, Barbara Casey, JanelleCombelic, Peggy Rowe, Larry Ward, Rachel Neumann, Chân Châu Nghiêm,Chân Đức Nghiêm, Chân Pháp Dung.